Câu chuyện khởi nghiệp

Những câu chuyện khởi nghiệp để tôi học hỏi … cảm ơn những ai đã chia sẻ những kinh nghiệm quý báu này !

Câu chuyện 1 : 

Câu chuyện khởi nghiệp của ông chủ chuỗi khách sạn Bốn Mùa nổi tiếng bậc nhất thế giới

Người thanh niên với tuổi thơ vất vả, chuyển nhà tới 15 lần trong 16 năm đầu đời, cuối cùng đã thật sự thành công với triết lý sống và hành động đầy ấn tượng.

Ở tuổi 29, người thanh niên Issadore “Issy” Sharp đã khởi đầu được công việc kinh doanh của một khách sạn mà sau này trở thành chuỗi khách sạn Four Seasons (Bốn Mùa) thành công vào hàng bậc nhất trên thế giới.

Hiện nay, tổng số nhân viên làm việc trong chuỗi khách sạn Bốn Mùa tại tất cả các nước lên tới 33 nghìn. Doanh thu hàng năm hơn 3 tỷ USD.

Người thanh niên với tuổi thơ vất vả, chuyển nhà tới 15 lần trong 16 năm đầu đời như vậy đã có thành tích không hề nhỏ.

Issadore “Issy” Sharp năm nay đã bước sang tuổi 80. Ông sinh ngày 08/10/1931. Cha ông là người Ba Lan gốc Do Thái đến Palestin vào năm 1920, 5 năm sau đó đến Canada và làm thợ xây.

Isadore Sharp rất cố gắng học tập, thi đỗ vào khoa kiến trúc của Học viện Ryerson Polytechnical Institute ở Toronto, Canada.

Isadore Sharp luôn chứng tỏ vị thế là một học sinh xuất sắc tại khoa với số điểm đạt được luôn ở tốp dẫn đầu. Kết thúc khóa học, Isadore Sharp quay về phụ giúp công việc kinh doanh của bố.

Từ năm 1930 đến năm 1940, với số vốn và kinh nghiệm đã có, ông mua những căn nhà cũ, tân trang và bán kiếm lời. Gia đình của Issadore “Issy” Sharp phải chuyển nhà liên tục cũng bởi lý do này.

Cơ hội kết bạn với nhóm người sáng lập chuỗi siêu thị dược phẩm Shoppers Drug Mart đến khi chị gái của ông kết hôn với Eddie Creed, người sở hữu cửa hàng thời trang lớn ở Toronto.

Mong muốn thành lập khách sạn của Issadore Sharp vấp phải thực tế khó khăn: thiếu vốn. Sau rất nhiều nỗ lực, người thanh niên trẻ tuổi mới có được số vốn cần thiết.

Isadore (Issy) Sharp không hề có kế hoạch kinh doanh trong ngành khách sạn ở quy mô lớn khi người kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng trẻ tuổi này làm việc với cha mình để xây khách sạn đầu tiên. Trong suốt thập kỷ 1960, ông mở ra 3 khách sạn mang tên Bốn Mùa. Kinh nghiệm của ông mở đường cho việc tạo ra kiểu khách sạn mới, đưa khách hàng vào vị trí trung tâm.

Những ngày đầu tiên

Năm 1961

Với số vốn đầu tư 1,5 triệu USD và 126 phòng, khách sạn đầu tiên trong chuỗi khách sạn Bốn Mùa được khai trương vào ngày đầu tiên của mùa xuân năm 1961 tại một khu vực trung tâm của thành phố Toronto nổi tiếng với hoạt động mại dâm và nhiều người vô gia cư nhưng nhờ tạo một bầu không khí rất sang trọng và trang trí rất độc đáo.

Phải mất đến 5 năm, Issy Sharp mới thuyết phục được người ủng hộ quan điểm của ông. Ngay từ đầu khách sạn 125 phòng với thương hiệu Bốn Mùa (Four Seasons) này đã mang phong cách phục vụ riêng.

Khách sạn nằm gần Công ty Truyền thông Canada nên đã thu hút được nhiều nhân viên của công ty này lui tới sau giờ làm việc. Đó cũng là khởi đầu làm nên một nhãn hiệu gắn liền với các nhân vật nổi tiếng và có ảnh hưởng trên thế giới cho Four Seasons.

Issy Sharp, người tham gia xây dựng khách sạn cùng với những đối tác đầu tiên của ông bao gồm Murray Koffler, Max Sharp, Eddie Creed và Fred Eisen, cho biết: “Chúng tôi mở khách sạn với nguyên tắc đơn giản: Đối xử với mỗi khách hàng như vị khách đặc biệt.

Năm 1963

Bốn Mùa mở khách sạn thứ 2 có tên Toronto’s Inn on the Park. Kiến trúc sư thiết kế khách sạn này chính là người đã chịu trách nhiệm công việc trên trong khách sạn được mở đầu tiên trước đó 2 năm. Khách sạn nằm trên một quả đồi và sở hữu một trong những nhà hàng ngon nhất thành phố, phong cách khu nghỉ đô thị, công việc kinh doanh của khách sạn lập tức thành công.

Đến cuối thập kỷ 1960, công ty mở khách sạn thứ 3 và dọn đường cho việc bành trướng trong thập niên 1970.

Thập niên 1970 – Chất lượng dịch vụ là tiêu chí hàng đầu

Thập niên 1970 khởi đầu với thời khắc quan trọng: Bốn Mùa khai trương khách sạn tại London – Anh. Khách sạn đặt nền móng cho hướng đi tương lai của tập đoàn khách sạn và cung cấp nhiều dịch vụ sau này phổ biến trong khắp các khách sạn của Bốn Mùa trên thế giới.

Năm 1970, khách sạn Inn on the Park London, sau này đổi tên thành Four Seasons Hotel London, được đưa vào hoạt động ở thời điểm du lịch liên Đại Tây dương phát triển bùng nổ. Trong một cuộc gặp vào giữa thập niên 1960, Issy Sharp đã gặp một gia đình người Anh với khu đất tại công viên Hyde Park và một kế hoạch xây khách sạn.

Gia đình này cảm thấy đã quá đủ khách sạn lớn tại London và muốn tạo ra khách sạn kiểu chuyên biệt (no-frills alternative) – khách sạn cung cấp 3 dịch vụ xa xỉ cho khác bao gồm: phòng tắm tốt, giường ngủ tốt và an ninh phòng; một số dịch vụ của khách sạn thông thường như máy pha cà phê hay điện thoại nhiều khả năng sẽ không được tìm thấy tại khách sạn kiểu này; nhiều du khách coi đây như lựa chọn tiết kiệm khi đi nghỉ.

Tuy nhiên Sharp đưa ra quan điểm khác: “Một khách sạn thật thân thiện. Không dành cho những ngài công tước mà dành cho những khách hàng muốn được phục vụ theo cách đó và không mang tính nghi thức như nhóm khách sạn lớn thông thường.”

Đối tác người Anh của ông đã thực sự bị thuyết phục. Sau khi cạnh tranh với tên tuổi khách sạn lớn đã có trước đó như Savoy, khách sạn mới luôn kín chỗ và khách sạn London’s Inn on the Park dành giải thưởng khách sạn châu Âu của năm.


Khách sạn Bốn Mùa ở Hồng Kông

4 quyết định cho sự thành công

Trong lịch sử của mình, Bốn Mùa đưa ra 4 quyết định quan trọng sau này đã tạo nền móng cho mô hình kinh doanh của tập đoàn khác sạn này.

Quyết định đầu tiên được dành cho chất lượng.

Thay cho việc mang đến tất cả mọi thứ cho tất cả mọi người: Bốn Mùa chú trọng vào mục tiêu duy nhất: trở thành khách sạn tốt nhất tại mỗi khu vực, khách sạn quy mô trung bình với chất lượng tuyệt hảo.

Quyết định thứ hai liên quan đến vấn đề dịch vụ.

Đến giữa thập niên 1970, công ty đã hướng tới phía Nam. Việc chiến thắng trên thị trường này cần đến một thế mạnh và Bốn Mùa quyết định dịch vụ sẽ mang đến thế mạnh, dịch vụ đã giúp mang lại cho thành công của khách sạn ở London. Cụ thể, sự xa xỉ thực sự không đến từ kiến trúc hay cách bài trí mà bởi dịch vụ. Vì thế Bốn Mùa đặt mục tiêu đưa dịch vụ trở thành yếu tố khác biệt và lợi thế cạnh tranh.

Chỉ trong vài năm, danh mục khách sạn của tập đoàn bao gồm 10 khách sạn khắp Canada và San Francisco, Chicago. Đến cuối thập kỷ 1970, Bốn Mùa đã thâm nhập thị trường Mỹ bằng chính thương hiệu của mình tại Washington DC.

———————————————————————————————————–

Câu chuyện 2 :  

Wahaha là công ty nước giải khát lớn nhất Trung Quốc. Câu chuyện khởi nghiệp của Tông Khánh Hậu, ông chủ tập đoàn này đã khiến nhiều người ngạc nhiên và nể phục.

Cách đây 23 năm, Wahaha bắt đầu từ một cửa hàng bán nước giải khát và tạp hóa trong trường học với số vốn chỉ vỏn vẹn 200.000 NDT. Đến năm 2007, Wahaha kiếm được 25,8 tỷ NDT. Và trong 10 năm gần đây, Wahaha liên tục đứng đầu trong danh sách các công ty trong nước về tổng sản lượng, lợi nhuận và tổng tài sản.

Vì gia đình khó khăn nên sau khi tốt nghiệp cấp hai, Tông Khánh Hậu phải nghỉ học và lăn lộn kiếm sống trên các nông trường chè miền núi. Trở về quê hương để đỡ đần công việc gia đình nhưng cuộc sống khó khăn lại tiếp tục đưa đẩy Tông đến thành phố Hàng Châu. Với trình độ học vấn thấp, Tông chỉ có thể tìm được công việc quét dọn tại một trường học ở thành phố này.

Năm 1987, ông mở một cửa hàng bán nước giải khát nhỏ trong một trường học ở huyện Thượng Thành, Hàng Châu. 20 năm sau, cửa hàng kinh doanh nhỏ bé của ông đã trở thành công ty sản xuất nước giải khát lớn nhất Trung Quốc.

Chộp lấy cơ hội từ lá thư cuộc đời

Với những kinh nghiệm tích cóp được từ việc bán sữa ở trường học và những tháng ngày lăn lộn với cuộc sống vất vả ở Hàng Châu, Tông quyết định làm việc lớn. Đó là, nâng cấp cửa hàng nhỏ bé của mình thành một cửa hàng lớn, có tên gọi Wahaha, chuyên phân phối các loại nước giải khát có ga, kem và các loại đồ dùng lặt vặt khác.

Năm 2006, Tông Khánh Hậu được xếp thứ 23 trong danh sách những người giàu có nhất Trung Quốc và thứ 840 trong danh sách những người giàu có nhất thế giới do Tạp chí Forbes (Mỹ) bình chọn với tổng tài sản ước tính lên đến 1 tỷ USD.

4 năm sau, ngày 11/3 vừa qua, Tạp chí Forbes vừa công bố, Tông Khánh Hậu – Tổng giám đốc tập đoàn Wahaha Hàng Châu – là người giàu nhất Trung Quốc lục địa. Với giá trị tổng tài sản lên đến 7 tỷ USD, Tông Khánh Hậu cũng được xếp vị thứ 103 trong danh sách những người giàu nhất thế giới.

Trong phòng trưng bày của tập đoàn Wahaha vẫn để một lá thư đã ố vàng, đó là lá thư bổ nhiệm, được ký ngày 6/4/1987. Năm đó, Tông trở thành trưởng phòng kinh doanh của Phòng giáo dục huyện Thượng Thành, thành phố Hàng Châu. Vào thời điểm Tông đựơc bổ nhiệm vào vị trí nghe rất “oai” này, phòng kinh doanh đang ở trong tình trạng nợ nần và đang có nguy cơ bị giải tán. Trong khi đó, “sếp” của Tông đặt mục tiêu cho trưởng phòng kinh doanh là phải đạt lợi nhuận không thấp hơn 40.000 NDT trong năm đầu tiên.

Với kinh nghiệm về cửa hàng nước giải khát trong trường học, Tông trở thành ứng cử viên tốt nhất cho vị trí này. Ở tuổi 42, Tông Khánh Hậu đồng ý với lời đề nghị này và cam kết sẽ đem về mức lợi nhuận 100.000 NDT trong năm đầu tiên.

Ở tuổi “tứ thập”, nhiều người Trung Quốc thường tự bằng lòng với một cuộc sống ổn định. Nhưng Tông Khánh Hậu lại chọn khởi đầu một chặng đường mới đầy thử thách. Tông nhớ lại: “Lá thư bổ nhiệm đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời tôi. Phòng giáo dục huyện Thượng Thành, thành phố Triết Giang đã chọn tôi làm giám đốc phòng kinh doanh. Đây là sân chơi thực tế để tôi thể hiện hết tài năng của mình”.

Chẳng bao lâu sau khi đảm nhiệm vị trí này, Tông Khánh Hậu bắt đầu đề xuất và thực hiện những bước đi hiệu quả, đưa Wahaha lên bậc vinh quang lớn. Tông thực hiện một cuộc điều tra trong số 3.000 học sinh ở Hàng Châu, cho thấy gần nửa số học sinh ở đây bị suy dinh dưỡng. Với kết quả khá “sốc” này, Tông đã hỏi ý kiến của Giáo sư Chu Thụ Dân của Phòng dinh dưỡng – Đại học Dược Triết Giang về việc sản xuất một loại nước giải khát bổ dưỡng cho trẻ em dựa trên các bài thuốc dân gian của Trung Quốc.

Tháng 11/1988, Wahaha giới thiệu sản phẩm nước uống dinh dưỡng đầu tiên của Trung Quốc dành cho trẻ em. Khẩu hiệu “Uống Wahaha, thưởng thức vị ngon” trở nên phổ biến trên khắp đất nước. Wahaha kiếm được 4,88 triệu NDT doanh thu bán hàng trong năm đầu tiên sau khi sản phẩm này được tung ra thị trường. Con số này đã tăng lên 27,12 triệu NDT trong năm thứ hai và vượt quá 100 triệu NDT trong năm thứ ba.

Vào tháng 4/1989, nhà máy thực phẩm dinh dưỡng trẻ em ở Hàng Châu đã được đặt tên mới là nhà máy thực phẩm dinh dưỡng Wahaha Hàng Châu, đánh dấu sự khởi đầu của công ty trên thị trường nước giải khát Trung Quốc. Wahaha có thêm sức mạnh nhờ sự phối hợp với nhà máy thực phẩm dinh dưỡng trẻ em Hàng Châu.

“Thực ra, nhiều công ty khác đã sản xuất nước giải khát dinh dưỡng khi Wahaha bước chân vào lĩnh vực này. Nhưng tôi nhận ra, không ai trong số họ sản xuất nước uống dinh dưỡng dành cho trẻ em. Và đó là lý do đưa đến sự thành công của chúng tôi”, Tông Khánh Hậu nói.

Kể từ những năm 1990, tỉnh Triết Giang đã khuyến khích sự phát triển của kinh tế phi nhà nước. Trong môi trường năng động đó, Wahaha nhận ra một cơ hội khác để phát triển. Năm 1991, với sự trợ giúp của chính quyền thành phố Hàng Châu, nhà máy dinh dưỡng Wahaha đã có 100 nhân viên cùng với tài khoản tiền gửi lên đến 60 triệu NDT, đã mua lại nhà máy thực phẩm đóng hộp Hàng Châu với giá 80 triệu NDT.

Vào thời điểm đó, nhà máy thực phẩm đóng hộp Hàng Châu có hơn 2.000 nhân viên và khu vực nhà xưởng rộng 60.000 m2, nhưng tổng tài sản này vẫn thấp hơn số nợ phải trả của nhà máy.

Tập đoàn Wahaha Hàng Châu chính thức được thành lập. Với lợi thế về sản phẩm, nguồn vốn và mức độ thâm nhập thị trường, chỉ trong 3 tháng, tập đoàn này đã giúp cho phần sản xuất của nhà máy thực phẩm đóng hộp Hàng Châu sinh lợi. Năm sau đó, doanh thu bán hàng và lợi nhuận trước thuế của Wahaha đã tăng khoảng 100%.

“Trứng nhà quê chọi đá thành phố”

Khi Wahaha, một từ trong tiếng Trung Quốc để mô phỏng tiếng cười của trẻ con, tung ra sản phẩm Future Cola, các nhà phân tích không đặt nhiều niềm tin vào sản phẩm này. Nhiều công ty trong nước đã cố gắng bán những loại nước uống giống cola nhưng đều thất bại. Coke và Pepsi gần như là những đỉnh cao không thể vượt qua. “Mục tiêu cạnh tranh với Coke và Pepsi của chúng tôi được xem như trứng chọi với đá”, Tông Khánh Hậu thừa nhận.

Wahaha đã phải mất đến một năm để phát triển loại nước uống cola của riêng mình, sản xuất một loại nước uống gần với Pepsi hơn là Coke. Họ đặt tên là Future Cola – Cola tương lai với hàm ý một loại nước uống đặc biệt. Đóng gói màu đỏ với phông chữ khá giống kiểu chữ của Coke.

Thế nhưng, sự ra đời của sản phẩm Future Cola đã đánh dấu một mốc lớn trong lịch sử của Wahaha. Hai hãng nước giải khát có tuổi đời hàng thế kỷ là Coca-Cola và Pepsi, cũng là những người dẫn đường trên thị trường nước giải khát thế giới đã đến Trung Quốc vào thập niên 1970 và sau đó chiếm lĩnh được 50% thị phần của thị trường nước giải khát nước này. Tuy nhiên, Tông Khánh Hậu đã nhìn thấy cơ hội mới khi ông nhận ra rằng hai gã khổng lồ này đã bỏ qua thị trường nông thôn của Trung Quốc.

Năm 1998, Wahaha cho ra mắt sản phẩm Future Cola để cạnh tranh trực tiếp với Coke và Pepsi. Với giá thấp và chính sách phân phối ưu đãi, Wahaha đã bán đựơc 620.000 tấn Future Cola năm 2002, chiếm 12% thị phần nước giải khát có ga. Mức thị phần này gần với thị phần của Pepsi ở Trung Quốc. Trong khi Coke và Pepsi đã chiếm lĩnh thị trường thành phố của Trung Quốc, thì Future Cola lại chi phối thị trường nông thôn của nước này.

Ngày nay, Wahaha được xếp vào danh sách 500 doanh nghiệp công nghiệp hàng đầu Trung Quốc xét về lợi nhuận trước thuế. “Tôi là một người bình thường, sống trong một giai đoạn chuyển đổi của đất nước và nền kinh tế”,Tông nói.

“Sau khi học xong cấp 2, cái nghèo đã làm gián đoạn việc học của tôi. Sau đó, tôi phải về nông thôn để làm việc cho gia đình. Chính sách cải cách và mở cửa đã giúp tôi trở thành một doanh nhân và đứng đầu một doanh nghiệp nổi tiếng của cả nước, và Wahaha đã phát triển từ một cửa hàng của trường học thành một công ty nước giải khát không thuộc sở hữu nhà nước lớn nhất Trung Quốc. Đây là lúc tôi phải đền đáp cho xã hội. Tôi sẽ cố gắng hết sức để giúp đỡ nhiều người hưởng lợi từ chính sách cải cách và mở cửa”, Tông chia sẻ quan điểm của mình.

Giấc mơ bán sản phẩm cho 1,3 tỷ người Trung Quốc của Tông Khánh Hậu đã được hiện thực hóa. Trung bình, mỗi người Trung Quốc đã mua khoảng 10 chai Wahaha. Công ty này đã kiếm được 10 tỷ NDT (1,46 tỷ USD) năm 2003. Nhờ đó, Wahaha đã trở thành công ty sản xuất nước giải khát lớn thứ tư đứng sau 3 người khổng lồ là Coca Cola, Pepsi và Cadbury.

Mặc dù không được học hành bài bản, bù lại Tông Khánh Hậu lại sở hữu bản năng kinh doanh nhạy bén. Ông đã nghĩ rằng việc sử dụng vốn quốc tế có thể là cách tốt nhất để xây dựng một doanh nghiệp tầm cỡ thế giới. Vì vậy, Tông đã bán 51% cổ phần của 5 nhà máy có khả năng sinh lợi nhất cho tập đoàn nước giải khát Danone của Pháp và Công ty BNP Paribas Peregrine.

Sau khi bán cổ phần, Tông Khánh Hậu vẫn tiếp tục nắm giữ vị trí lãnh đạo của liên doanh này. Ông vẫn giữ thương hiệu này, tên của chủ tịch tập đoàn, và đảm bảo rằng mức lương hưu của các cựu nhân viên và vị trí của các nhân viên hơn 45 tuổi vẫn giữ như cũ.

Ông còn được gọi là doanh nhân Trung Quốc chăm chỉ nhất, vì ông vẫn lượn lờ trên thị trường 200 ngày/năm. Sự chăm chỉ làm việc của ông được tôi luyện từ những tháng ngày thơ ấu nghèo khổ. Đến năm 33 tuổi, ông vẫn chỉ là một nhân viên bán hàng cho một trường học ở Hàng Châu.

Ông nhận ra rằng trẻ con thường mất cảm giác muốn ăn sau khi đã ăn quá nhiều quà vặt và vì vậy, ý tưởng sản xuất một loại thức uống lợi tiêu hóa đã nảy sinh trong đầu ông. Loại sữa hỗ trợ tiêu hóa Wahaha của ông đã bắt đầu được ra đời năm 1988 và giành được sự ưa thích của người tiêu dùng trên khắp cả nước. Một vài năm sau đó, Tông bắt đầu sản xuất nước uống tinh khiết đóng chai và cũng đạt được thành công to lớn.

Tông cũng có ý tưởng mở rộng thị trường trong nước bằng việc tặng tiền cho nhiều người. Ông đã đề xuất việc tặng các thẻ mua hàng cho khách hàng. Ông cũng nghĩ rằng, về dài hạn một xã hội ổn định cần có một tầng lớp trung lưu rộng rãi và phải tăng thu nhập cá nhân vì sự phát triển của kinh tế và xã hội.

Đề xuất này cũng đã đựơc ông biến thành hành động. Khi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới gần đây nhất đã khiến một vài công ty phải sa thải nhân viên và đóng cửa dây chuyền sản xuất, công ty của Tông vẫn tuyển dụng rất nhiều người. Wahaha đã đầu tư 6 tỷ NDT (878 triệu USD) để xây dựng 90 dây chuyền sản xuất mới và tạo việc làm cho 7.000 người. Ông cũng thành lập quỹ từ thiện Phúc Lợi ở tỉnh Triết Giang để hỗ trợ cho sinh viên nghèo và các tổ chức tình nguyện.

Năm 2007, mối quan hệ liên doanh giữa Wahaha và Danone không còn tốt đẹp vì theo Tông Khánh Hậu, Danone đã kiểm soát cả công ty vì vậy ông quyết định ra đi và lại lập doanh nghiệp riêng của mình. Vẫn tiếp tục trên thị trường nước giải khát, thương hiệu Wahaha Hàng Châu lại tiếp tục chiếm lĩnh thị trường và vị thế của Tông Khánh Hậu tiếp tục được cải thiện trong danh sách những người giàu nhất do Tạp chí Forbes của Mỹ bình chọn.

————————————————————————–

Câu chuyện 3 : 

Khởi nghiệp từ 3 triệu đồng

Hẳn những ai là tín đồ của shopping online đều một lần biết đến cái tên shop_for_gal của cô chủ Thu Hương trên các diễn đàn mua rẻ, enbac, và quen thuộc nhất vẫn là facebook cùng tên. Trung bình hàng hàng ngày Hương phải trả lời hàng trăm comment mua hàng trên mạng và tiếp nhiều lượt khách đến tận nhà mua hàng. Công việc có vẻ khá căng đối với một sinh viên mới ra trường như Hương, nhưng cô bạn lúc nào cũng tươi cười đon đả đón khách và trả lời tỉ mỉ từng thắc mắc của khách hàng. Hương đã có 5 năm kinh nghiệm bán hàng trên mạng, cô bạn bắt đầu công việc kinh doanh của mình khi mới bước chân vào năm thứ nhất đại học. Có được thành công ngày hôm nay, Hương cũng phải trải qua không ít những thất bại, nhưng Hương không nản mà coi đó là bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân.

Khởi nghiệp từ 3 triệu đồng

Dự định tạt qua shop của Hương để chọn bộ cánh đi đám cưới đứa bạn nhưng tôi lại bị cuốn hút bởi cách nói chuyện khá thân thiện của Hương, sinh năm 1987 nhưng cô bạn có dáng người nhỏ nhắn này đã có 5 năm kinh nghiệm kinh doanh. Khởi nghiệp từ năm 2006 với số vốn ban đầu 3 triệu đồng hiện nay Hương đã là chủ của một blog shop với nhiều mặt hàng phong phú, mạng lưới khách hàng rộng khắp Từ Hà Nội, Đắc Lắc, TP HCM, thậm chí còn nhận chuyển hàng ra nước ngoài.

 Hương tự chọn trang phục, tự chụp ảnh và post lên blog để khách hàng có thể ngắm kỹ kiểu dáng.

Xuất phát từ việc mua bán quần áo cũ “nhì nhằng” trên diễn đàn mua rẻ, thấy việc buôn bán trên mạng cũng khá dễ dàng Hương mạnh dạn kinh doanh quần áo mới.

Nhưng ngặt một nỗi đồ mới thì không thể bán với giá như đồ cũ, phải bán với giá trị thực của nó, nhưng tăng giá liền bị những thành viên khác trong diễn đàn “góp ý”, chính vì thế Hương quyết định mở một blog shop online để được thoả sức hoạt động trong lĩnh vực thời trang. Và cái tên shop_for_gal ra đời từ đó.

Với 3 triệu đồng vay của mẹ, những ngày đầu bắt tay vào bán hàng, Hương phải quay vòng vốn, bán được lãi bao nhiêu, cô bạn lại đầu tư hết vào việc mua hàng, lựa chọn những mẫu mới nhất và hợp thời trang nhất. Với niềm đam mê thời trang và có con mắt nghệ thuật, những mẫu quấn áo Hương đặt mua từ Quảng Châu luôn thu hút được sự chú ý của các bạn trẻ. Dần dần, Hương đã chủ động được vốn và bắt đầu làm ăn có lãi. Tính đến năm 2008 đã có khoảng 150 bài được post lên và gần 2000 mẫu quần áo, dày dép được giới thiệu trên blog, lượng truy cập lên đến 451.110 lượt,  đến nay chắc con số đó còn phải lớn hơn rất nhiều lần, shop_for_gal đã trở thành địa chỉ mua sắm tin cậy của nhiều bạn trẻ.

Khách hàng mục tiêu của shop là các bạn gái trong độ tuổi từ 16 -23, những mẫu quần áo ở đây có phong cách trẻ trung, kiểu dáng, màu sắc phù hợp với lứa tuổi. “Ban đầu mình phải lang thang trên mạng để search thông tin liên lạc, gửi thông điệp, mời họ ghé thăm blog, cứ thế mạng lưới khách hàng được link đến nhiều địa chỉ khác nhau trên cả nước và shop có những đơn đặt hàng đầu tiên”, Hương chia sẻ.

Sau khi thống nhất được về chất liệu, kiểu dáng, màu sắc, khách hàng gửi tiền vào tài khoản của Hương, hàng sẽ đến tận tay người tiêu dùng trong thời gian nhanh nhất, với những bạn ở xa phải gửi qua các dịch vụ chuyển phát nhanh. Việc lấy hàng ban đầu cũng do Hương phải đến tận Quảng Châu gom hàng nhưng khi đã công việc đã đi vào ổn định Hương nhờ một người bạn gửi hàng về, trung bình cứ 10 ngày Hương lại nhập hàng về một lần, số lượng lên tới hàng trăm chiếc áo, quần.

Công việc nhiều, nhưng Hương luôn biết cách quản lý khoa học thời gian biểu của mình, vì ngày từ khi còn đi học đến nay đã tốt nghiệp nhưng Hương luôn giữ được lượng khách hàng ổn định và luôn gia tăng theo thời gian, việc sắp xếp công việc hợp lý của cô bạn luôn làm khách hàng hài lòng bởi Hương phải phục vụ khách hàng từ khắp mọi miền của đất nước.

Kinh doanh quan trọng nhất là tạo được chữ tín và giữ chữ tín

Công việc đi vào khuôn mẫu và có những thành công ban đầu, có nhiều khác hàng “ruột”, tuy nhiên không phải không có những bài học.

Sau một vài thất bại từ công việc kinh doanh, Hương cho rằng, trong kinh doanh quan trọng nhất là tạo được chữ tín và giữ chữ tín.

Trong kinh doanh bất kỳ mặt hàng nào, việc tạo được chữ tín và thương hiệu cho cửa hàng là việc quan trọng sống còn và việc giữ được chữ tín đó với khách hàng lại là sự quyết định thành công hay thất bại của sản phẩm đó. Nắm được quy luật này, Thu Hương luôn hướng đến cho shop_for_gal trở thành một thương hiệu được đảm vảo về chất lượng và giá cả. Nhắm đến đối tượng khách hàng đa phần là người trẻ tuổi, Hương vạch ra hướng khoanh vùng khách để tiện cho việc lấy hàng và phục vụ khách hàng, hơn nữa đối tượng này thường xuyên thay đổi quần áo theo mốt nên khá phù hợp để lựa chọn. Tuy nhiên, nhắm vào giới trẻ cũng có những khó khăn nhất định, bới hầu hết khách hàng của Hương đều đang trong độ tuổi đi học nên không thể bán hàng với giá quá đắt được. Vì thế, những sản phẩm xinh xinh, hợp túi tiền các bạn trẻ luôn được Hương ưu tiên nhập về.

Toàn bộ những mẫu áo quần được đăng lên shop đều được Hương tỉ mỉ chụp lai hình kèm theo sắp xếp phụ kiện theo “tông” để khách hàng được cảm nhận rõ nhất về sản phẩm chứ không còn lăn tăn như kiểu mua “order” ảnh thì lung linh mà hàng về đến tay lại không khác gì mớ rẻ. Nói đâu xa chứ chính mình cũng bị một lần như thế ;((. Hương bảo mỗi lần hàng mới về phải chụp mất cả ngày rồi chụp xong phải dọn dẹp lại phòng bở hơi tai, nhưng công sức của cô bạn cũng được đền đáp bới hình up lên shop đẹp và rất thật, khách dễ mua, dễ chọn.

Hương chia sẻ, hồi mới bán hàng, Hương thường bị lừa mất tiền tức là giao hàng nhưng người ta không trả tiền cho mình, thỉnh thoảng vài lần tin người gửi hàng trước mà chưa check xem họ gửi tiền chưa hoặc nghĩ quen nên gửi tiền sau cũng được. Hồi đó chưa có dịch vụ gửi đồ đến tận nhà nên có lần bị mất tiền rất ngớ ngẩn, bây giờ có thêm dịch vụ gửi đồ giao hàng và thanh toán luôn nên cũng đỡ hơn nhưng không phải là không có cái khó. Có lần bị khách bỏ bom, họ bảo mua hàng Hương gửi hàng đến nhưng lúc đấy lại không lấy hoặc bị bố mẹ không cho mua (vì khách hàng chủ yếu là teen mà, tiền nong vẫn phải phụ thuộc vào bố mẹ) rồi còn nhiều trường hợp khác nữa, nhưng cũng may là mình chỉ mất tiền phí thôi 35k, còn hàng thì người ta lại hoàn cho mình. Hương kể: “ có lần giữ hàng cho một bà chị, bà ấy cứ ngọt nhạt mua 1 lúc 4 cái áo, bắt mình om 2 tháng trời, đến khi mình gọi điện lại không nghe máy, báo hại mình không có hàng bán cho khách khác được vì phải giữ chữ tín với vị khách đó”

Giờ không còn “ngu ngơ” như trước nữa, nhưng thỉnh thoảng cũng không tránh khỏi những rắc rối nhỏ phát sinh, nhưng cô bạn luôn tìm cách tháo gỡ được, công việc cứ thế chạy êm ru.

——————————————————————————-

Warren Buffett 

Bất chấp mọi đổi thay, câu lạc bộ top 10 đại gia giàu nhất hành tinh có 2 vị trí vẫn sừng sững không đổi chủ. Chiếm ngôi đầu bảng không ai khác ngoài trùm Microsoft với phong độ 50 tỉ USD. Giữ vị trí á quân và đầy tiềm lực là nhà đầu tư lão luyện Warren Buffet (44 tỷ USD). Doanh nhân “thất thập cổ lai hy” này vẫn không chịu nhường bước cho lớp trẻ mà tiếp tục bền bỉ sánh bước cùng Bill Gates trong bảng “vàng”.
Warren Buffett cho rằng sống giàu có mà không được yêu mến thì chỉ là sống cô đơn. Học Từ thời hồi niên thiếu, Warren Buffet đã ham mê những con số đến múc ghi nhớ dễ dàng các kết quả tính toán. Lên tám, Buffet đã bất đầu đọc các tác phẩm viết về thị trường chứng khoán (TTCK) của ông cụ thân sinh mình. Khi được 11 tuổi, ông chú ý tìm hiểu bảng niêm yết giá ở Harris Upham, nơi cha ông làm nghề môi giới. Trong năm đó, lần đầu tiên trong đời, ông mua cổ phiếu (CP) của Công ty Citries Sennce Preferred.
Ở tuổi 13, Buffet đã làm công việc giao báo cho hai tờ Washington Post và Washington Times Herald. Bằng số tiền tiết kiệm được, ông mua các máy chơi bắn bi tân trang với giá 25 đoạt mỗi chiếc rồi đặt ở các tiệm cắt tóc gần nhà. Chẳng bao lâu, Buffet làm chủ 7 máy và đem về gia đình mỗi tuần 50 USD. Sau đó cùng với một người bạn Trung học, Buffet mua được một chiếc Rolls Royce đời 1934 với giá 350USD và đem cho thuê mỗi ngày 35 USD. Vào thời gian ông tốt nghiệp Trung học lúc 16 tuổi, đã dành dụm được 6000USD.
Trong năm học cuối ở viện Đại học Nchraska, Buffet đã đọc cuốn “The Inteuigent Investor”, một tác phẩm kinh điển của Benjamin Graham. Ông này tin rằng nhà đầu tư tính toán chính xác được giá trị đích thực của một Công ty để mua CP theo giá thấp hơn nó sẽ dễ làm giàu. Chính phương pháp toán học này đã đánh thức năng khiếu tính toán của Buffet. Sau khi đậu bằng Master về kinh tế học ở Đại học Columbia, Buffet quay về Omaha làm công việc đúc kết tin tức cho Công ty môi giới của cha ông.
Năm 1954, theo lời mời của Graham, ông chuyển đến New York làm việc cho Công ty Graham-newman Corp. Suốt thời gian làm việc ở đây, Buffet hoàn toàn bị lôi cuốn bởi phương pháp đầu tư của vị thầy thông thái. Ngoài Buffet, Graham còn thuê thêm Waller Schloss, Tomkapp và Bill Ruane.
Năm 1956, Công ty Graham-newman giải thể vì Graham lúc ấy đã 61 tuổi nên quyết định nghỉ hưu. Buffet lại quay về Omaha. Trang bị kiến thức đã lãnh hội được từ Graham cùng với hậu thuẫn về tài chính của gia đình và bè bạn, Buffet khai trương Công ty hợp doanh đầu tư trách nhiệm hữu hạn lúc 25 tuổi. Công ty khởi sự hoạt động với bảy hội viên trách nhiệm hữu hạn cùng góp vốn được 105.000USD. Còn Buffet là hội viên chịu trách nhiệm chung, góp 100USD vào vốn liếng hoạt động của Công ty. Các hội viên TNHH hàng năm nhận được 6% trên vốn đầu tư của họ và 75% doanh lợi vượt mức vừa kể, còn Buffet chỉ nhận được 25% khoản doanh lợi vượt mức này. Hơn 13 năm sau, Buffet tích lấy được khoản tiền bằng số vốn ban đầu nhân với tỷ lệ kép hàng năm 29,5%. Trong thời gian điều hành Công ty hợp danh này, Buffet không chỉ thực hiện các nghiệp vụ đầu tư nắm quyền sở hữu ở các Công ty mà còn đầu tư nắm quyền kiểm soát ở một số Công ty vô danh quy mô lớn cũng như nhỏ nữa.
Năm 1961, ông mua lại Demspster Mill Manufacturing Company, một Công ty sản xuất thiết bị nông nghiệp và năm 1962 ông bắt đầu mua CP của một Công ty dệt đang èo uột là Berkshire Hathaway. Đến năm 1965, tài sản của Công ty hợp danh (partnership) đã tăng lên đến 26 triệu USD.
Năm 1969, Buffet quyết định chấm dứt hoạt động Công ty hợp danh đầu tư. Khi Công ty hợp danh khởi sự hoạt động, Buffet đề ra mục tiêu vượt chi số Dow Jones mỗi năm trung bình 10 điểm. Thế mà từ năm 1957 đến 1969, ông đã vượt chỉ số này – mỗi năm không chi 10 điểm mà đến 22 điểm! Khi Công ty giải thể, các nhà đầu tư đều được chia phần đầy đủ. Ngoài ra, một số nhà đầu tư đã được đào tạo về trái phiếu địa phương (Municipal bonds), còn những người khác được hướng dẫn thành quản trị viên tài chính. Nhân vật duy nhất được Buffet tiến cử là BillRuane. Thế là Ruane chấp nhận quản lý tài chính cho một số hội viên cũ và như vậy Sequoia Fund (Quỹ cây tùng) được khai sinh. Các hội viên khác của Công ty hợp danh, kể cả Buffet đều đầu tư phần vốn liếng của họ vào Berkshire Hathaway. Phần vốn liếng của Buffet ở Công ty hợp danh đầu tư cũ đã tăng lên đến 25 triệu USD và khoản tiền ấy giúp ông đủ sức nắm quyền điều hành Công ty Berkshire Hathaway. Suốt hai thập niên sau đó, tài sản của Buffet lẫn Berkshiređều tăng vọt.
Đam mê kinh doanh
Ngay từ khi còn nhỏ, trong khi các bạn vô tư chơi đùa thì trong đầu óc em bé Warren Buffett đã suy nghĩ làm sao trở nên giàu có. Lúc 6 tuổi Warren đi bán soda từng nhà đế kiếm tiền cho dù có cha là một đại biểu liên bang và cũng là một nhà đầu tư Ngân hàng. Sau đó cậu và các bạn dùng toán tìm cách thắng trong các trận cá độ đua ngựa bằng cách bán những lời khuyên. Dĩ nhiên họ bị cấm vì không có giấy phép. Vào lúc 11 tuổi cậu mua stock (chứng khoán) của Cities Service với giá 38USD Mỹ/share (cổ phiếu) nhưng rồi stock này xuống giá còn 27 đô Mỹ và khi nó lên lại tới 40 đô Mỹ cậu vội vàng bán “chạy làng”.
Tuy nhiên stock này thời gian sau liên tục lên giá tới $ 200/share. Cậu học được một bài học nhớ đời: phải kiên nhẫn trong đầu tư. Lớn tuổi hơn, cậu đầu tư vào đất đai, quản lý những đường dây giao báo, đặt máy pin-balls (đá banh bàn) tại những hiệu hớt tóc đế kiếm tiền cho đến khi vào Đại học.
Sống đơn giản liêm khiết
Tuy là một người giàu có nhưng Warren sống trong một căn nhà chỉ trị giá 31.500 USD Mỹ đã mua hơn 40 năm nay, mặc áo quần bình thường, ăn uống bình dân như mọi người. Ông uống Coca Cola, ăn kẹo Sees Candy và ít người biết ông là người giàu nhì thế giới. Trong khi những CEO khác sống đế vương với tiền lương nhiều triệu dollars, vô số tiền thưởng cùng nhiều phụ cấp linh tinh khác, Warren khiêm tốn lĩnh lương của một CEO hàng đầu thế giới với mức lương 100.000 USD Mỹ/năm.
Tính ông đâu ra đó, có một lần con gái ông, Susie hỏi mượn 20 USD Mỹ tiền mặt để trả tiền parking trong sân bay và ông đã yêu cầu cô phải ký check trả lại mình. Vào những năm của thập niên 1990, suy thoái đạo đức của các ngành tài chính trên đà gia tốc. Ông luôn luôn lên án việc gian lận sổ sách chứng từ.Để ngăn ngừa tình trạng trên, ông chọn những cộng sự viên có đạo đức làm việc quanh mình . Đặt “thành thật và liêm khiết” lên hàng đầu khi phỏng vấn tuyển chọn nhân viên, ông luôn tụ hỏi, “Nếu người này làm con dâu hay con rể thì mình có đồng ý không”?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s